Thị trường ngoại hối là một thị trường phi tập trung toàn cầu (OTC) để giao dịch tiền tệ. Thị trường này xác định tỷ giá hối đoái cho mọi loại tiền tệ. Nó bao gồm tất cả các khía cạnh của việc mua, bán và trao đổi tiền tệ theo giá hiện hành hoặc giá xác định. Về khối lượng giao dịch, cho đến nay đây là thị trường lớn nhất trên thế giới, tiếp theo là thị trường tín dụng.
Kể từ thời của các pharaoh Ai Cập, các loại tiền đã liên tục thay đổi từ loại này sang loại khác. Mặc dù người Babylon được ghi nhận là những người đầu tiên trong lịch sử sử dụng giấy làm hóa đơn, nhưng những người kinh doanh tiền tệ ở Trung Đông lại là những thương nhân đầu tiên trên thế giới thực hiện các giao dịch tiền tệ. Họ đổi tiền của một nước lấy tiền của nước khác.
Vào thời Trung cổ, nhu cầu về các hình thức tiền khác ngoài tiền xu bắt đầu xuất hiện, do phương pháp lựa chọn được cập nhật liên tục. Các biên lai làm bằng giấy này được sử dụng như một hình thức thanh toán quỹ của bên thứ ba có thể chuyển đổi vào thời điểm đó để các thương gia và thương nhân ngoại thương vào thời điểm đó có thể đơn giản trao đổi ngoại hối và phát triển nền kinh tế địa phương.
Trong thế kỷ 15, gia đình Medici được yêu cầu mở ngân hàng tại các địa điểm nước ngoài để đổi tiền tệ thay mặt cho các thương nhân dệt may. Để tạo thuận lợi cho giao dịch, ngân hàng đã tạo sổ tài khoản Nostro (từ tiếng Ý, có nghĩa là "của chúng tôi"), sổ này chứa hai mục nhập cột hiển thị số lượng ngoại tệ và nội tệ;
ເຫດການສຳຄັນທີ່ສ້າງຕະຫຼາດ forex
Alex. Brown & Sons ໄດ້ຊື້ຂາຍສະກຸນເງິນຕ່າງປະເທດປະມານປີ 1850 ແລະ ເປັນຜູ້ນຳໃນການຊື້ຂາຍສະກຸນເງິນໃນສະຫະລັດອາເມລິກາ.
ໃນປີ 1880, J.M. do Espírito Santo de Silva (Banco Espírito Santo) ໄດ້ຍື່ນຂໍ ແລະ ໄດ້ຮັບອະນຸຍາດໃຫ້ດຳເນີນທຸລະກິດຊື້ຂາຍແລກປ່ຽນເງິນຕາຕ່າງປະເທດ.
ປີ 1880 ໄດ້ຖືກພິຈາລະນາໂດຍຢ່າງໜ້ອຍໜຶ່ງແຫຼ່ງຂໍ້ມູນວ່າເປັນຈຸດເລີ່ມຕົ້ນຂອງການແລກປ່ຽນເງິນຕາຕ່າງປະເທດສະໄໝໃໝ່: ມາດຕະຖານຄຳໄດ້ເລີ່ມຕົ້ນໃນປີນັ້ນ.
ຈາກປີ 1899 ຫາ 1913, ການຖືຄອງເງິນຕາຕ່າງປະເທດຂອງປະເທດຕ່າງໆໄດ້ເພີ່ມຂຶ້ນໃນອັດຕາສະເລ່ຍ 10.8% ຕໍ່ປີ, ໃນຂະນະທີ່ການຖືຄອງຄຳໄດ້ເພີ່ມຂຶ້ນໃນອັດຕາສະເລ່ຍ 6.3% ຕໍ່ປີລະຫວ່າງ 1903 ແລະ 1913.
ໃນທ້າຍປີ 1913, ເກືອບເຄິ່ງໜຶ່ງຂອງການແລກປ່ຽນເງິນຕາຕ່າງປະເທດຂອງໂລກໄດ້ດຳເນີນການໂດຍໃຊ້ເງິນປອນສະເຕີລິງ. ຈຳນວນທະນາຄານຕ່າງປະເທດທີ່ດຳເນີນການພາຍໃນເຂດລອນດອນໄດ້ເພີ່ມຂຶ້ນຈາກ 3 ແຫ່ງໃນປີ 1860, ເປັນ 71 ແຫ່ງໃນປີ 1913. ໃນປີ 1902, ມີພຽງສອງນາຍໜ້າແລກປ່ຽນເງິນຕາຕ່າງປະເທດໃນລອນດອນ. ໃນຕົ້ນສະຕະວັດທີ 20, ການຊື້ຂາຍສະກຸນເງິນມີການເຄື່ອນໄຫວຫຼາຍທີ່ສຸດໃນປາຣີ, ນິວຢອກ, ແລະ ເບີລິນ; ອັງກິດສ່ວນໃຫຍ່ບໍ່ໄດ້ມີສ່ວນຮ່ວມຈົນເຖິງປີ 1914. ລະຫວ່າງປີ 1919 ແລະ 1922, ຈຳນວນນາຍໜ້າແລກປ່ຽນເງິນຕາຕ່າງປະເທດໃນລອນດອນໄດ້ເພີ່ມຂຶ້ນເປັນ 17, ແລະ ໃນປີ 1924, ມີ 40 ບໍລິສັດທີ່ດຳເນີນການແລກປ່ຽນ.
ໃນລະຫວ່າງຊຸມປີ 1920, ຄອບຄົວ Kleinwort ໄດ້ເປັນທີ່ຮູ້ຈັກໃນຖານະຜູ້ນຳຕະຫຼາດແລກປ່ຽນເງິນຕາຕ່າງປະເທດ, ໃນຂະນະທີ່ Japheth, Montagu & Co. ແລະ Seligman ຍັງຄົງໄດ້ຮັບການຍອມຮັບວ່າເປັນຜູ້ຄ້າ F.X. ທີ່ສຳຄັນ.
ການຄ້າໃນລອນດອນໄດ້ເລີ່ມຄ້າຍຄືກັບຮູບແບບທີ່ທັນສະໄໝ. ຮອດປີ 1928, ການຄ້າ Forex ເປັນສ່ວນສຳຄັນຂອງການດຳເນີນງານທາງການເງິນຂອງເມືອງ.
ໃນປີ 1944, ສັນຍາ Bretton Woods ໄດ້ຖືກລົງນາມ, ເຊິ່ງອະນຸຍາດໃຫ້ສະກຸນເງິນມີການເໜັງຕີງພາຍໃນຂອບເຂດ ±1% ຈາກອັດຕາແລກປ່ຽນທີ່ກຳນົດໄວ້.
ປະທານາທິບໍດີສະຫະລັດ ທ່ານ Richard Nixon ໄດ້ຮັບການຍອມຮັບວ່າເປັນຜູ້ສິ້ນສຸດສັນຍາ Bretton Woods ແລະ ອັດຕາແລກປ່ຽນຄົງທີ່, ເຊິ່ງໃນທີ່ສຸດໄດ້ນຳໄປສູ່ລະບົບສະກຸນເງິນແບບລອຍຕົວເສລີ.
ເນື່ອງຈາກສັນຍາ Bretton Woods ແລະ ຄວາມບໍ່ມີປະສິດທິພາບຂອງ European Joint Float, ຕະຫຼາດ forex ໄດ້ຖືກບັງຄັບໃຫ້ປິດໃນຊ່ວງປີ 1972 ແລະ ເດືອນມີນາ 1973.
ປີ 1973 ເປັນຈຸດປ່ຽນປະຫວັດສາດທີ່ແທ້ຈິງໃນຕະຫຼາດແລກປ່ຽນເງິນຕາຕ່າງປະເທດສະໄໝໃໝ່. ໃນປີນັ້ນ, ສັນຍາ Smithsonian ແລະ ກົນໄກອັດຕາແລກປ່ຽນລອຍຕົວຂອງເອີຣົບໄດ້ລົ້ມລົງ, ເປັນການມາເຖິງຢ່າງເປັນທາງການຂອງກົນໄກອັດຕາແລກປ່ຽນແບບລອຍຕົວເສລີ.
ມູນຄ່າການຊື້ຂາຍໃນຕະຫຼາດແລກປ່ຽນເງິນຕາຕ່າງປະເທດທົ່ວໂລກ
ໃນຊຸມປີ 1980, ດ້ວຍການພັດທະນາຂອງຄອມພິວເຕີ ແລະ ເທັກໂນໂລຢີທີ່ກ່ຽວຂ້ອງ, ກະແສທຶນຂ້າມຊາດໄດ້ເລັ່ງຂຶ້ນ, ເຊື່ອມຕໍ່ຕະຫຼາດໃນເຂດເວລາຂອງອາຊີ, ເອີຣົບ, ແລະ ອາເມລິກາ. ປະລິມານການຊື້ຂາຍແລກປ່ຽນເງິນຕາຕ່າງປະເທດໄດ້ເພີ່ມຂຶ້ນຢ່າງມະຫາສານຈາກປະມານ 70 ຕື້ໂດລາສະຫະລັດຕໍ່ມື້ໃນກາງຊຸມປີ 1980 ມາເປັນເກືອບ 6 ພັນຕື້ໂດລາສະຫະລັດຕໍ່ມື້ໃນປັດຈຸບັນ.